Blog

Hiểu về ung thư đại trực tràng

0
Hiểu về ung thư đại trực tràng
BS.CKII. NGUYỄN PHÚ HỮU – 15:34 17/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Khó phát hiện bệnh, thậm chí một số người không có triệu chứng gì nhưng khi đi khám tổng quát lại bàng hoàng phát hiện mình bị ung thư đại trực tràng. Vậy làm thế nào để biết mình mắc bệnh sớm và điều trị đúng, ai có khả năng bị bệnh cao…?

Bệnh ung thư có tần suất mắc cao

Theo Tổ chức Ung thư toàn cầu Globocan 2019 ung thư  đại trực tràng hiện nay đứng hàng thứ 3 thế giới và thứ 5 ở Việt Nam về tần suất phổ biến của bệnh.

Đại trực tràng hay còn gọi là ruột già, là đoạn cuối cùng của ống tiêu hóa, nhiệm vụ của đại trực tràng là tiếp nhận và bài tiết các thức ăn không tiêu hóa được (phân). Ung thư xuất hiện thường gặp nhất ở trực tràng với 25%.

Nguyên nhân chính gây bệnh chưa xác định được, tuy nhiên, người ta nhận thấy có nhiều yếu tố nguy cơ:

Lớn tuổi; nam giới; chế độ ăn nhiều mỡ và thịt, ít chất xơ; béo phì; hút thuốc lá; polype đại tràng, viêm loét đại tràng xuất huyết hay bệnh Crohn, tiền căn gia đình có người ung thư đại trực tràng.

Triệu chứng

Ở giai đoạn đầu có thể hoàn toàn không có triệu chứng. Bệnh nhân có thể thấy một hay một số triệu chứng sau khi khối ung thư phát triển:

– Hoạt động ruột thay đổi liên tục (tiêu chảy hoặc táo bón).

– Trong ruột khó chịu, không thoải mái.

– Trong phân có máu (màu đỏ tươi hoặc sẫm màu).

– Phân nhỏ hơn so với bình thường.

– Thường xuyên thấy đau hoặc co thắt ruột do đầy hơi, hoặc cảm giác đầy bụng hoặc chướng bụng

– Giảm cân không rõ lý do, cơ thể mệt mỏi.

Hiểu về ung thư đại trực tràng

Chẩn đoán

Nội soi đại trực tràng: là xét nghiệm quan trọng nhất khi nghi ngờ có ung thư đại trực tràng. Qua nội soi, bác sĩ có thể biết được tương đối vị trí, kích thước khối u và lấy mẫu sinh thiết để chẩn đoán chắc chắn khối u đó có phải là ung thư hay không.

Ngoài ra, người bệnh cần được thực hiện một số chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm khác như: chụp cắt lớp điện toán (CT-Scan), siêu âm bụng, X-quang phổi, điện tim, xét nghiệm máu…giúp chẩn đoán chính xác giai đoạn để tiến hành điều trị.

Điều trị

Điều trị ung thư đại trực tràng là điều trị đa mô thức bao gồm phẫu thuật kết hợp với hóa trị hoặc/và xạ trị.

Phẫu thuật là điều trị cơ bản nhất, khối u phải được cắt bỏ đồng thời với các hạch bạch huyết di căn.

Phẫu thuật ung thư đại trực tràng bao gồm: phẫu thuật mở, phẫu thuật nội soi và tiến bộ nhất hiện tại là phẫu thuật nội soi ứng dụng robot. Với phẫu thuật này, bác sĩ quan sát rõ hơn các cơ quan trong ổ bụng, giúp cắt lọc các hạch di căn hiệu quả hơn và bảo tồn các cơ quan khác, từ đó người bệnh sẽ hồi phục nhanh hơn, giảm tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật.

Điều trị hỗ trợ: bao gồm hóa trị và xạ trị, có thể áp dụng trước hoặc sau phẫu thuật, tùy thuộc vào từng trường hợp bệnh cụ thể.

Tầm soát

Ung thư trực tràng ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng hoặc triệu chứng mơ hồ, dễ gây nhầm lẫn với các bệnh lý khác.Vì vậy, để có thể phát hiện được ở giai đoạn sớm mọi người cần chủ động đi tầm soát, khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt là với các đối tượng có nguy cơ.

Hiện có 3 phương pháp thường được sử dụng để tầm soát ung thư đại trực tràng.

– Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân: xét nghiệm có độ nhạy phát hiện ung thư khoảng 70 – 80%, tuy nhiên, đây là xét nghiệm không đặc hiệu, nghĩa là có dương tính cũng chưa chắc là ung thư đại trực tràng mà có thể một bệnh lý khác ở đường tiêu hóa. Một khi phát hiện có máu trong phân, người bệnh sẽ được chỉ định để được nội soi đại trực tràng.

– Nội soi đại trực tràng ảo: sử dụng CT-Scan đa lát cắt để thực hiện trên người bệnh đã được xổ ruột. Máy điện toán sẽ dựng hình lại lòng đại tràng.Phương pháp này có thể phát hiện phần lớn các polyp và khối u trong lòng đại tràng và trực tràng.Sau khi nội soi đại tràng ảo phát hiện ra polyp thì phải nội soi đại tràng thật để cắt polyps, sinh thiết khối u để có chẩn đoán xác định.

Hiểu về ung thư đại trực tràngNội soi đại trực tràng

Nội soi đại trực tràng: là phương pháp tầm soát chính xác nhất. Qua nội soi đại tràng, bác sĩ sẽ phát hiện các bệnh lý như trĩ, polyp, viêm loét đại trực tràng… từ đó sẽ có xử trí phù hợp như cắt bỏ khối polyp trong lúc nội soi đồng thời sinh thiết polyp để chẩn đoán xác định ung thư.

Lưu ý: Để chuẩn bị nội soi đại trực tràng, người bệnh cần nhịn ăn và được dùng thuốc xổ để làm sạch ruột.

Mỗi đối tượng nguy cơ và độ tuổi khác nhau sẽ được bác sĩ chỉ định thực hiện các biện pháp tầm soát khác nhau để có hiệu quả tốt nhất.

Phòng ngừa

– Giảm chất béo trong khẩu phần ăn.

– Tăng cường hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt vào bữa ăn hàng ngày.

– Hạn chế thức ăn có nhiều muối, thức ăn lên men, xông khói.

– Sau 50 tuổi nên xét nghiệm máu trong phân, soi trực tràng, đại tràng mỗi 3 – 5 năm một lần.

– Tránh những chất gây đột biến gien như dư lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trọng trong thực phẩm.

– Không lạm dụng rượu, bia và các chất lên men rượu khác.

Viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay

0
Suckhoedoisong.vn – Năm nay tôi 40 tuổi, cách đây vài tháng, tôi bị đau khuỷu tay, đau nhiều khi dệt vải và làm việc nặng.

Có người nói tôi bị viêm cầu lồi, vậy xin bác sĩ tư vấn giúp tôi về bệnh này!

Nguyễn Thị Hà (Hà Giang)

Viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay còn được gọi bằng một tên khác như khuỷu tay của người chèo thuyền. Bệnh thường ở độ tuổi từ 40-50 và chơi thể thao như tennis, dọn dẹp nhà cửa, làm vườn hay bị chấn thương trực tiếp vào khuỷu tay.

Biểu hiện của bệnh là đau ở mặt ngoài khuỷu tay, ở vị trí bám tận gân lồi cầu. Ban đầu với triệu chứng lâm sàng là đau ở vùng lồi cầu ngoài cánh, đau lan dọc theo cẳng tay, tăng lên khi làm các động tác gấp duỗi khuỷu tay hay sấp ngửa bàn tay, khi ấn vào lồi cầu khuỷu tay. Đau xuất hiện tự nhiên hoặc khi làm một số động tác như duỗi cổ tay, lắc, nâng một vật. Khi sờ, nắn hoặc ấn có điểm đau phía dưới lồi cầu ngoài xương cánh tay 0,5-1cm, có thể kèm theo sưng nhẹ tại chỗ hoặc không thấy thay đổi gì. Đau xuất hiện hoặc tăng lên khi khám các động tác đối kháng ở tư thế duỗi cổ tay hoặc nâng vật nặng, do vậy làm giảm khả năng duỗi cổ, bàn tay và khả năng cầm nắm.

Tuy nhiên, để chẩn đoán bệnh chính xác, bạn cần đến cơ sở y tế có chuyên khoa xương khớp để được các bác sĩ khám và làm các  xét nghiệm về viêm và Xquang khớp khuỷu tay bình thường.

Điều trị tăng cholesterol sau 7 năm vẫn nhồi máu cơ tim

0
Điều trị tăng cholesterol sau 7 năm vẫn nhồi máu cơ tim
TS. GIANG HOA – 16:34 17/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Anh N.T.T được bác sĩ chẩn đoán cao mỡ máu (tăng cholesterol máu) từ năm 2012, được điều trị thuốc đều đặn, nhưng vừa qua phải nhập viện vì cơn nhồi máu cơ tim khi mới 32 tuổi. vì sao?

Tăng cholesterol càng nguy hiểm nếu do di truyền

Tăng cholesterol máu có thể hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau, chỉ khi chẩn đoán đúng nguyên nhân bệnh lý bác sĩ mới có thể xác định mục tiêu điều trị phù hợp, đem lại hiệu quả điều trị cao nhất. Nếu bệnh nhân tăng cholesterol máu thông thường chỉ cần ổn định nồng độ LDL-C ở mức 130 – 160mg/dL còn bệnh nhân mắc cholesterol di truyền chỉ thật sự an toàn trong ngưỡng LDL-C 70 – 100mg/dL. Nếu điều trị không thích hợp trong thời gian dài sẽ giảm hiệu quả điều trị, sau 7 – 10 năm, các biến chứng từ tăng cholesterol máu vẫn xuất hiện như xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến, đột quỵ.

Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, phác đồ điều trị dành cho tăng cholesterol máu di truyền áp dụng liệu pháp Statin cần phải bắt đầu bằng liều cao ngay từ đầu; nếu vẫn không đạt mục tiêu mong muốn, bác sĩ có thể kết hợp 2 – 3 thuốc khác để điều chỉnh, kết hợp đa trị liệu (bao gồm lọc LDL-C máu và cân nhắc dùng 4 thuốc).

Các nghiên cứu cho thấy, tuy có cùng chỉ số LDL-C máu, người mang đột biến gien (di truyền) lại có nguy cơ xơ vữa động mạch, bệnh động mạch vành trung bình cao gấp 3 lần người bình thường, và nguy cơ này càng tăng khi nồng độ LDL-C máu càng cao.

Cứ 200 – 250 người có 1 người mắc bệnh tăng cholesterol máu di truyền.Tỷ lệ này trở nên đáng lo ngại khi nhiều người còn ỷ lại rằng chỉ khi béo phì, thiếu vận động mới bị cao mỡ máu. Nếu gia đình có người thân bị bệnh mạch vành/tim mạch sớm (nam <55 tuổi, nữ <60 tuổi) nguy cơ cao là do yếu tố di truyền; những người thân cùng huyết thống có nguy cơ mắc bệnh cao do đây là bệnh di truyền trội – chỉ cần cha hoặc mẹ mắc bệnh, mỗi người con có 50% khả năng mắc bệnh.

Điều trị tăng cholesterol sau 7 năm vẫn nhồi máu cơ tim

Việc phân tích, giải mã gien di truyền (DNA) ngày càng dễ tiếp cận hơn với giới y khoa trong nước, hỗ trợ đắc lực cho chẩn đoán lâm sàng, giúp cá thể hóa quá trình điều trị, góp phần hình thành nền y học chính xác hơn là chỉ phụ thuộc vào dấu hiệu lâm sàng và yếu tố kinh nghiệm. Dựa vào bệnh trạng mà bác sĩ lâm sàng sẽ chỉ định xét nghiệm các nhóm gien liên quan trực tiếp đến một số tình trạng như cơ tim phì đại, cơ tim giãn nở, rối loạn nhịp tim như hội chứng QT dài, hội chứng Brugada, bệnh tăng cholesterol di truyền… từ đó giúp xác định chẩn đoán, hỗ trợ điều trị và cải thiện tiên lượng sống cho bệnh nhân.

Tuy có cùng chỉ số LDL-C máu, người mang đột biến gien lại có nguy cơ xơ vữa động mạch, bệnh động mạch vành trung bình cao gấp 3 lần người bình thường

Đột biến gien “đột tử sớm” ở người trẻ Đông Nam Á

Thời gian qua, nhóm bệnh liên quan đến tim mạch như đột quỵ, đột tử, nhồi máu cơ tim có xu hướng “trẻ hoá” đặt ra cho giới y học những câu hỏi cần được giải thích dưới góc độ lối sống, dinh dưỡng và di truyền.

Để xác định nguyên nhân đột tử, đầu tiên, bác sĩ lâm sàng sẽ tìm hiểu người đó đột tử khi đang nghỉ ngơi hay gắng sức. Chẳng hạn một cầu thủ đột tử trong khi đá bóng, việc thường làm là mổ tử thi để xem có yếu tố tim mạch hay không; nếu thanh niên đột tử trong giấc ngủ hoặc lúc mới thức dậy, các bác sĩ thông thường sẽ nghĩ đến hội chứng Brugada, QT dài.

Trong những trường hợp này, bác sĩ có thể làm xét nghiệm gien cho người chết và trữ mẫu. Sau đó thông báo cho gia đình bệnh nhân, điều tra tiền sử gia đình (ông bà cha mẹ, anh chị em), dựa vào biểu hiện lâm sàng của người thân mà thực hiện các khảo sát siêu âm, đo điện tâm đồ cho con cái người bị đột tử… Trong đó, khảo sát di truyền (xét nghiệm gien) cho kết quả có ý nghĩa lớn, giúp bác sĩ và gia đình theo dõi, quản lý nguy cơ đột tử. Nếu phát hiện đột biến gien có thể theo dõi hoặc đặt Stent sớm để ngăn ngừa nguy cơ bệnh.

Một nghiên cứu khảo sát gần đây giữa Viện Di truyền Y học (TP.HCM) với ĐH Y Hà Nội trên nhóm bệnh nhân mắc hội chứng Brugada cho thấy 15/27 người tham gia khảo sát mang đột biến gien liên quan. Khi so sánh với kết quả nghiên cứu ở Thái Lan trên những ca đột tử trẻ (độ tuổi trung bình 31) trong giấc ngủ, thật ngạc nhiên khi thấy nhiều đột biến gien mới Việt Nam phát hiện được cũng được báo cáo trong nhóm người này. Điều này có thể cho thấy mối liên quan nào đó về gien đột biến đã dẫn đến đột quỵ trong giấc ngủ (ở người trẻ tuổi) trên quần thể người Đông Nam Á.

Để biết có yếu tố di truyền hay không, bác sĩ lâm sàng sẽ điều tra tiền sử gia đình có người thân mắc bệnh động mạch vành/ tim mạch sớm (cha dưới 55 tuổi, mẹ dưới 60 tuổi) hay không. Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý nguyên nhân di truyền như: Mảng ứ đọng mỡ máu ở da, gân cơ, mống mắt, chỉ số cholesterol xấu tăng cao (LDL-C >190 mg/dl ở người lớn và LDC-C >160 mg/dl ở trẻ em).

Điều trị tăng cholesterol sau 7 năm vẫn nhồi máu cơ timGiải mã gien (DNA) hỗ trợ đắc lực cho chẩn đoán lâm sàng

Khi có người thân trong gia đình chẩn đoán mang đột biến gien, các thành viên trong gia đình cần xét nghiệm gien để tầm soát sớm khả năng mang đột biến di truyền. Tuy nhiên, nguy cơ rối loạn mỡ máu, nhồi máu cơ tim không chỉ xảy ra ở người thừa cân, béo phì mà kể cả người gầy nhưng mang gien đột biến.

Vì vậy, chẩn đoán phân tử (gien) và chẩn đoán lâm sàng sẽ xác định bệnh và nguy cơ tăng cholesterol cao có ý nghĩa y tế công cộng lớn trong sàng lọc bệnh, thay đổi mục tiêu điều trị với các bệnh nhân có đột biến gien, giúp cá thể hóa quá trình điều trị.

Tim mạch là bệnh phức tạp đa yếu tố, liên quan nhiều gien khác nhau. Tùy tình trạng bệnh mà bác sĩ lâm sàng sẽ chỉ định xét nghiệm những nhóm gien ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các tình trạng như cơ tim phì đại, cơ tim giãn nở, rối loạn nhịp di truyền, QT dài, hội chứng Brugada, tăng cholesterol gia đình…

Nếu số lượng gien nhỏ, chi phí giải trình tự khoảng 3 – 4 triệu đồng, với nhóm bệnh cơ tim có thể cần xét nghiệm hàng trăm gien, chi phí khoảng 7 – 9 triệu đồng tùy theo nhóm gien được chọn. Xét nghiệm di truyền không chỉ có ý nghĩa chẩn đoán, điều trị cho bệnh nhân mà còn giúp tiên lượng, phòng ngừa nguy cơ cho người thân trong gia đình.

Hiện nay, giải trình tự gien di truyền giúp chúng ta có thể bao quát 85% yếu tố nguy cơ bệnh tật và sức khỏe tuy nhiên tỷ lệ chẩn đoán chỉ mới ở mức 40%. Trong 22.000 gien của con người, chúng ta chỉ hiểu rõ đột biến trên 5.000 gien sẽ ảnh hưởng đến bệnh lâm sàng, 17.000 gien còn lại nếu đột biến có thể dẫn đến những nhóm bệnh tật nào vẫn còn là mảng trống với hiểu biết của giới khoa học. Việc giải cả bộ gien không đồng nghĩa với chắc chắn 100% biết được nguyên nhân di truyền gây ra yếu tố bệnh tật, sức khỏe…

Trẻ em, người gầy, thanh niên vẫn bị nhồi máu cơ tim
-Khác với bệnh tăng cholesterol máu thông thường, tăng cholesterol máu di truyền xuất phát do đột biến trội trên một trong ba gien: LDLR, PCSK9, APOB, gây mất chức năng của gien, làm giảm sự thanh lọc LDL-C ra khỏi huyết tương, dẫn đến nồng độ LDL-C tăng cao đáng kể trong máu. Quá trình tích lũy cholesterol xấu (LDL-C) ở thể bệnh nặng có thể diễn ra từ ngay sau sinh, khó nhận biết nên khi biểu hiện thành biến chứng (như nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành), đã muộn.
-Hiểu biết về di truyền học đã và đang giải thích cho những trường hợp bị tim mạch, cao mỡ máu bẩm sinh hoặc ở người trẻ tuổi (mà không có nguyên nhân bệnh lý khác). Vì vậy, tăng cholesterol máu (hay cao mỡ máu) không còn là “bệnh nhà giàu” mà bất kỳ ai (người gầy, người dưới 40 tuổi, trẻ em) mang đột biến gien vẫn có thể âm thầm diễn tiến bệnh mà chưa được phát hiện và điều trị đúng cách.

Cảnh giác biến chứng của loét dạ dày – tá tràng

0
Cảnh giác biến chứng của loét dạ dày – tá tràng
BS. Nguyễn Thị Hoàng – 16:37 17/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng (DD-TT) là bệnh thường gặp, xảy ra do tổn thương trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng, gây ra các triệu chứng đường tiêu hóa trên như đau bụng, buồn nôn…

Bệnh có thể chữa trị được hoàn toàn, nhưng nếu kéo dài có thể dẫn đến các biến chứng nặng nề, nguy hại đến sức khỏe. Vì vậy, chúng ta cần hiểu rõ về bệnh để phòng bệnh và điều trị bệnh tốt hơn.

Nguyên nhân loét dạ dày – tá tràng

Có nhiều nguyên nhân gây loét DD-TT, nhưng trên thực tế lâm sàng, thường thấy có những nguyên nhân như loét do Helicobacter pylori (Hp); đây là nguyên nhân chủ yếu gây loét DD-TT, viêm dạ dày cấp và mạn, ung thư dạ dày. Tiếp đó, những người thường xuyên sử dụng các loại thuốc kháng sinh, kháng viêm, giảm đau là nguyên nhân thứ hai sau nhiễm Hp. Việc sử dụng lâu dài thuốc kháng sinh, kháng viêm, giảm đau ở người lớn tuổi, làm ức chế quá trình tổng hợp prostaglandin, là chất có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày bị sụt giảm, gây loét DD-TT.

Loét dạ dày - tá tràng gây nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không tuân thủ điều trị.

Loét dạ dày – tá tràng gây nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không tuân thủ điều trị.

Yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến loét dạ dày – tá tràng

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh loét DD-TT, trong đó phải kể đến yếu tố di truyền, yếu tố tâm lý (stress), những người hay bị căng thẳng, lo lắng sẽ có nguy cơ mắc bệnh loét DD-TT. Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến thói quen, tập tục ăn uống vùng miền… cũng làm tăng nguy cơ loét DD-TT.

Hút thuốc lá, uống rượu bia (các đồ uống có cồn) và thói quen ăn uống, sinh hoạt không điều độ cũng là yếu tố nguy cơ gây loét DD-TT. Các nghiên cứu cho thấy ăn uống không đúng giờ, đúng bữa, hay bỏ bữa, nhất là bữa sáng, ăn quá khuya, thức khuya, lười vận động… hoặc nhiều người có sở thích ăn các món chua, cay, nóng, lạnh, cứng, khó tiêu, uống bia rượu, hút thuốc lá… cũng dễ mắc bệnh nhiều hơn.

Dấu hiệu nhận biết

Khi mắc, đối với bệnh nhân có biểu hiện điển hình là có các cơn đau xoắn vặn, nóng rát thượng vị, không lan, xuất hiện đều đặn vào một giờ nhất định sau bữa ăn (1-3 giờ sau ăn với loét dạ dày; 3-5 giờ sau ăn với loét tá tràng). Đau giảm khi uống sữa hay dùng thuốc antacide, tăng với các thức ăn chua, nhiều axit (dứa, chanh…). Đau thường tái phát theo chu kỳ, thường vào mùa lạnh.

Đối với trường hợp không điển hình, bệnh nhân có các biểu hiện đau không liên quan đến bữa ăn, không có tính chu kỳ hoặc bệnh nhân hoàn toàn có thể không có triệu chứng. Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể có một số triệu chứng khác như: đầy bụng, khó tiêu, trướng hơi, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, ợ chua, sụt cân hoặc tăng cân, mất ngủ, ngủ không ngon giấc.

Biến chứng của bệnh loét dạ dày – tá tràng

Bệnh viêm loét DD-TT nếu không được điều trị dứt điểm sẽ trở thành mạn tính và có thể dẫn đến các biến chứng có ảnh hưởng nghiêm trọng như:

Thủng DD-TT: Hiện nay ít gặp, dấu hiệu của bệnh là bệnh nhân đau bụng dữ dội đột ngột, đau như xuyên, bụng co cứng, tình trạng sốc…

Xuất huyết tiêu hóa trên: Dấu hiệu của vết loét chảy máu bao gồm các triệu chứng như nôn ra máu, đi cầu ra máu hay phân đen, chóng mặt, choáng váng… có thể dẫn đến tình trạng mất máu cấp, nặng phải cầm máu bằng nội soi hay phẫu thuật.

Hẹp môn vị: Đây là dạng sẹo co thắt của ổ loét xơ chai gây thu hẹp lòng DD-TT tại nơi đó, làm cho thức ăn khó có thể đi qua. Các dấu hiệu của hẹp môn vị như là nôn thức ăn của các bữa ăn trước, bụng óc ách thức ăn cũ và sút cân nhanh.

Ung thư hóa: Tỷ lệ ung thư hóa khoảng 5-10% và thời gian loét kéo dài trên 10 năm.

Các biến chứng kể trên đều rất nghiêm trọng và có thể cần can thiệp cấp cứu. Bệnh nhân nên đến bệnh viện gần nhất khi có dấu hiệu nghi ngờ.

Lời khuyên của thầy thuốc

Loét DD-TT nếu không tuân thủ điều trị sẽ dẫn đến những biến chứng vô cùng nguy hiểm. Vì vậy, nên thay đổi thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống, tránh các yếu tố có hại cho dạ dày để phòng bệnh và điều trị bệnh tốt hơn, cải thiện triệu chứng và tránh các biến chứng có hại.

Cần tuân thủ điều trị tốt, uống thuốc đúng giờ và đúng liều theo chỉ định của bác sĩ.  Không lạm dụng thuốc lá, rượu bia, các loại thuốc giảm đau NSAIDs (giảm đau chống viêm không steroid). Giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt. Người bệnh nên tránh các loại thực phẩm, thức uống như: những loại thức ăn cứng, dai, hay rau có nhiều xơ (rau già, rau cần…), quả xanh sống, các loại quả chua (chanh, cóc, xoài xanh, sấu…). Các gia vị, dấm tỏi, tiêu ớt hoặc các loại dưa cà muối, hành muối. Hạn chế các loại nước có gas, nước trà, cà phê đậm đặc.

Nguyên nhân gây nấm thanh quản

0
Nguyên nhân gây nấm thanh quản
17:37 17/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Thời gian gần đây, tôi rất hay bị ho, điều trị một thời gian lại tái phát. Đi khám, các bác sĩ nghi ngờ tôi bị nấm thanh quản.

Vậy xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào dẫn đến nấm thanh quản?

hoabinh@gmail.com

Nấm thanh quản là một hình thái viêm thanh quản đặc hiệu do các vi nấm gây ra. Thông thường, có 4 loại nấm có thể gây bệnh ở thanh quản là: Aspergillus, Candida, Histoplasma và Blastomyces. Tại Việt Nam, với thời tiết nóng ẩm, môi trường sinh hoạt và điều kiện vệ sinh chưa cao nên bệnh nấm thanh quản dễ phát triển và thông thường chỉ gặp 2 loại nấm gây bệnh ở thanh quản là: Aspergillus và Candida.

Nguyên nhân thường gặp của bệnh nấm thanh quản do sự kết hợp của 2 điều kiện là loài nấm cộng sinh từ niêm mạc họng miệng, khi gặp yếu tố thuận lợi, nấm trở nên gây bệnh. Những yếu tố thuận lợi cũng góp phần bệnh nấm thanh quản phát triển như: mất cân bằng sinh thái, chuyển dịch vùng khí hậu, suy thoái môi trường, thiên tai, lụt lội. Ngoài ra còn yếu tố suy giảm miễn dịch của con người như điều trị kháng sinh kéo dài, dùng thuốc corticoid kéo dài, mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, HIV/AIDS, ung thư, lao…

Vì vậy, ngoài uống thuốc theo đơn của bác sĩ, bạn cần vệ sinh mũi họng bằng cách dùng khẩu trang đúng tiêu chuẩn khi đi đường, khi làm việc ở môi trường bụi bẩn; vệ sinh mũi họng thường xuyên giúp phòng bệnh hiệu quả.

Cần làm gì khi bị đau đầu do thời tiết?

0
Cần làm gì khi bị đau đầu do thời tiết?
19:37 17/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Cứ khi thời tiết thay đổi, giao mùa là tôi lại bị đau đầu. Tôi đã mua thuốc uống và đi khám nhiều mà bệnh không khỏi.

Tôi cảm thấy rất khó chịu mỗi khi bị đau đầu, có cách gì làm hạn chế  bệnh của tôi không?

Lehaanh@gmail.com

Đau đầu do thời tiết thường gặp ở những người quá mẫn cảm với thời tiết. Khi thời tiết thay đổi (nhiệt độ chênh lớn giữa ngày và đêm, thời tiết nóng lạnh thất thường, mưa phùn ẩm ướt…), người mẫn cảm rất dễ mắc.

Ngay khi xuất hiện chứng đau đầu, nên nằm nghỉ ở nơi thoáng mát, tư thế chân cao hơn đầu để máu lưu thông lên não tốt hơn, sau đó nghỉ ngơi, ăn uống điều độ.

Cách phòng bệnh đơn giản, hiệu quả là tăng cường thể lực, bồi bổ cơ thể bằng các loại thuốc như vitamin B1, B6, B12…, ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi… Nên dùng thực phẩm khi còn nóng. Hạn chế ăn các loài sống dưới bùn, nước như lươn, chạch, nghêu, sò, ốc hến… Uống đủ 2 lít nước mỗi ngày nhằm điều hòa cơ thể hiệu quả, không nên uống đồ quá lạnh khi chuyển mùa.

Những ngày thay đổi thời tiết, nhất là khi trời trở lạnh, cần mặc đủ ấm, giữ ấm chân và tai nếu không sẽ dẫn đến đau đầu. Khi đi ngoài trời nắng, nên đội mũ rộng vành, đeo kính mát. Luyện tập dưỡng sinh hoặc các môn thể dục nhẹ nhàng.

Dấu hiệu gan nhiễm mỡ có quá nguy hiểm?

0
Dấu hiệu gan nhiễm mỡ có quá nguy hiểm?
BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ – 06:43 18/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Cơ quan tôi tổ chức khám sức khỏe định kỳ và kết quả là rất nhiều người bị chẩn đoán “gan nhiễm mỡ” qua siêu âm. Xin cho biết dấu hiệu này có nguy hiểm gì không?Khi bị như vậy thì phải làm gì?

(Trần Bắc Hà – Đồng Tháp)

Có thể khẳng định dấu hiệu gan nhiễm mỡ hoàn toàn không có gì nguy hiểm như người ta hay “hù”. Gan nhiễm mỡ chỉ là một dấu hiệu như các dấu hiệu khác (sổ mũi, nhức đầu, đau bụng,…), chúng ta chỉ sợ một bệnh cụ thể nào đó vì nó gây nguy hiểm. Như vậy sẽ không chính xác nếu chỉ ghi chẩn đoán đơn thuần là gan nhiễm mỡ vì đây là dấu hiệu của nhiều bệnh khác nhau, bệnh mà nó gây ra dấu hiệu gan nhiễm mỡ mới là cái gây nguy hiểm.Khi gặp triệu chứng này người bệnh nên yêu cầu bác sĩ phải tìm cho ra bệnh đã gây ra và điều trị bệnh gốc đó chứ không phải chẩn đoán gan nhiễm mỡ rồi cho hàng lô hàng lốc thuốc “bổ gan”.

Gan nhiễm mỡ gây ra bởi sự rối loạn chuyển hóa chất mỡ trong cơ thể, 2 chất mỡ hay được để ý là cholesterol và triglycerid; việc tăng triglycerid mới là tác giả của vấn đề.Sự tăng triglycerid thường liên quan đến chế độ ăn thừa chất béo. Tất cả các bệnh gây rối loạn chuyển hóa chất mỡ đều có khả năng gây gan nhiễm mỡ như: bệnh đái tháo đường, nghiện rượu, rối loạn chuyển hóa do di truyền, béo phì, bệnh lý gan mãn, dùng thuốc,…

Khi một người được chẩn đoán gan nhiễm mỡ, không nên quá lo lắng.Nếu có bệnh lý rối loạn chuyển hóa như nêu trên bác sĩ sẽ điều trị ngay mà không chú ý đến gan nhiễm mỡ, lúc này mới đáng lo ngại vì bệnh lý gốc ấy.

Phần lớn các trường hợp bác sĩ chỉ chẩn đoán gan nhiễm mỡ và bạn không có triệu chứng gì, đều do béo phì, dư cân hoặc thói quen ăn quá nhiều chất béo. Khi được chẩn đoán là gan nhiễm mỡ cần chú ý thay đổi thói quen ăn uống, hạn chế ăn các chất béo động vật, nên ăn dầu, bỏ hẳn rượu bia,… tập thể dục thường xuyên để cố gắng giảm cân và làm lại các xét nghiệm (cả siêu âm) mỗi 3 – 6 tháng. Đã có nhiều bài viết về bệnh gan nhiễm mỡ nhưng tòa soạn vẫn thường xuyên nhận được thắc mắc và sự lo lắng của bạn đọc khi mình bị chẩn đoán là gan nhiễm mỡ. Trong các đợt khám sức khỏe định kỳ hàng năm của người lao động, nếu đơn vị có tổ chức làm siêu âm tổng quát, số lượng người bị gan nhiễm mỡ chiếm tỷ lệ đáng kể.

Hiểu đúng về bệnh lao và nguyên tắc điều trị

0
Hiểu đúng về bệnh lao và nguyên tắc điều trị
BS. Đức Vĩnh – 07:11 18/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nhưng không phải tất cả mọi người nhiễm vi khuẩn lao đều phát bệnh.

Ngày nay, cùng với tiến bộ của khoa học, bệnh lao đã cơ bản được khống chế, tiên lượng điều trị tốt nếu người bệnh hợp tác và tuân thủ phác đồ điều trị đến hết liệu trình.

Nhiễm lao dạng tiềm ẩn và bệnh lao

Vi khuẩn lao có thể sống trong cơ thể mà không phát bệnh. Đây gọi là nhiễm lao dạng tiềm ẩn. Ở hầu hết những người hít phải vi khuẩn lao và bị nhiễm khuẩn, cơ thể có khả năng kháng lại vi khuẩn để ngăn chúng tăng trưởng. Những người bị nhiễm lao dạng tiềm ẩn không cảm thấy bị bệnh và không có bất kỳ triệu chứng bệnh nào. Những người này không lây nhiễm và không thể truyền vi khuẩn lao cho những người khác. Tuy nhiên, một khi vi khuẩn lao bắt đầu hoạt động trong cơ thể và sinh sôi, người này sẽ chuyển từ nhiễm lao dạng tiềm ẩn sang mắc bệnh lao.

Vi khuẩn lao bắt đầu hoạt động nếu hệ miễn dịch không thể ngăn chúng tăng trưởng. Khi vi khuẩn lao hoạt động (sinh sản trong cơ thể) thì gọi là bệnh lao. Những người mắc bệnh lao sẽ phát bệnh và có thể lây lan vi khuẩn sang những người mà họ tiếp xúc mỗi ngày.

Có nhiều người nhiễm lao dạng tiềm ẩn nhưng không bao giờ phát bệnh. Một số người phát bệnh lao ngay sau khi bị nhiễm khuẩn lao (trong vòng vài tuần) trước khi hệ miễn dịch của họ có thể kháng vi khuẩn lao. Những người khác có thể phát bệnh vài năm sau đó khi hệ miễn dịch của họ bị suy giảm vì một lý do nào đó. Đối với những người có hệ miễn dịch suy giảm, đặc biệt là những người nhiễm HIV thì nguy cơ phát bệnh lao sẽ cao hơn những người có hệ miễn dịch bình thường.

Bệnh nhân lao phải tuyệt đối tuân thủ chỉ định điều trị.

Bệnh nhân lao phải tuyệt đối tuân thủ chỉ định điều trị.

Cần làm gì khi từng tiếp xúc với người bệnh lao?

Điều mà nhiều người băn khoăn đó là: Tôi nên làm gì nếu đã từng tiếp xúc với người nhiễm lao dạng tiềm ẩn?

Một người nhiễm lao dạng tiềm ẩn không thể lây lan vi khuẩn sang người khác. Bệnh nhân không cần phải làm xét nghiệm kiểm tra nếu tiếp xúc với người nhiễm lao dạng tiềm ẩn. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân tiếp xúc với người mắc bệnh lao hoặc người có các triệu chứng của bệnh lao thì nên đi kiểm tra.

Vậy trong trường hợp đã từng tiếp xúc với người mắc bệnh lao thì nên làm gì?

Những người mắc bệnh lao có nhiều khả năng lây lan vi khuẩn cho những người mà họ tiếp xúc mỗi ngày, ví dụ như các thành viên trong gia đình hoặc đồng nghiệp. Bất kỳ ai có tiếp xúc với người mắc bệnh lao, người đó nên đến bác sĩ để kiểm tra.

Người bệnh lao nên điều trị ở đâu?

Ngay khi phát hiện ra mình có dấu hiệu nhiễm lao, người bệnh cần đến cơ sở y tế gần nhất để được khám xét cẩn thận và chẩn đoán chính xác.

Việc điều trị lao phải được tiến hành càng sớm càng tốt. Điều trị lao được thực hiện ở tất cả các bệnh viện đa khoa, bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện khu vực và bệnh viện tuyến Trung ương. Thuốc điều trị lao hoàn toàn được Nhà nước cấp miễn phí. Vì vậy, người bệnh lao đừng ngần ngại mà phải đi khám và điều trị ngay tức khắc. Thuốc điều trị lao là chung trên toàn quốc, phác đồ điều trị là chung trên toàn quốc. Vì vậy, người bệnh không nên quan niệm cứ phải tuyến Trung ương điều trị thì mới khỏi bệnh lao. Quan trọng hơn cả chính là ở việc điều trị có tuân thủ nguyên tắc hay là không.

Tuân thủ điều trị để khỏi bệnh

Trong điều trị lao, bệnh nhân lao tuyệt đối không được bỏ thuốc ngắt quãng dù chỉ 1 ngày vì đó là khoảng thời gian mà vi khuẩn lao hồi phục và tấn công trở lại. Thường điều trị chia làm 2 đợt: đợt tấn công thường gồm 4 thuốc và đợt duy trì thường gồm 2 thuốc. Bệnh nhân lao phải tuân thủ theo nguyên tắc điều trị lao dưới sự giám sát của nhân viên y tế. Điều trị lao đạt hiệu quả đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ 3 chữ “Đ” có nghĩa: đúng, đủ, đều.

Đúng: Đúng phác đồ, đúng liều lượng, đúng thuốc.

Đủ: Đủ thời gian (6 hoặc 8 tháng). Tùy theo loại bệnh lao được bác sĩ  chỉ định, loại bệnh mới hay tái trị mà áp dụng phác đồ và thời gian điều trị cho từng loại bệnh đó.

Đều: Bệnh nhân phải uống thuốc thật đều đặn hằng ngày, thông thường, uống vào buổi sáng lúc bụng đói. Tuy nhiên, cũng tùy vào cơ địa và tùy vào sự dung nạp thuốc của từng bệnh nhân, lúc đó bác sĩ có thể chỉ định cho uống sau ăn hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Trong suốt thời gian điều trị, bệnh nhân không tự ngưng thuốc hoặc bỏ thuốc vì uống thuốc không đều đặn, lúc uống  sáng, lúc tối, nhớ lúc nào uống lúc nấy… sẽ giảm hiệu quả điều trị. Vi khuẩn lao rất dễ kháng thuốc lao. Nồng độ thuốc diệt vi khuẩn lao không đủ hiệu lực sẽ tạo cho vi khuẩn lao kháng thuốc, gây khó khăn cho công tác điều trị về sau. Ngoài ra còn tạo nguồn vi khuẩn lao  kháng  thuốc lây lan  cho người thân và cho cộng đồng. Trong quá trình điều trị có thể có tác dụng phụ của thuốc lao xảy ra. Nhẹ: nổi mề đay, ngứa, mệt mỏi, đau nhức các khớp lớn (hội chứng giả gút). Nặng: sốc phản vệ, viêm gan, vàng da, đau bụng nôn ói, viêm trợt da. Nếu có những dấu hiện trên, người bệnh nên báo ngay cho bác sĩ điều trị biết để có hướng xử trí.

Sau khi uống thuốc  lao, nước tiểu có màu đỏ và thậm chí đổ mồ hôi hoặc nước mắt có màu đỏ là bình thường vì đây là màu của thuốc.

Bệnh vi nấm hạt men ở trẻ em

0
Bệnh vi nấm hạt men ở trẻ em
BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG – 07:43 18/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Con tôi năm nay được 1 tuổi, thường bị mảng đỏ ở miệng sau đó trắng đục như sữa, bám chặt, đụng vào dễ chảy máu, lúc ở miệng, lúc ở lưỡi; người quen trong gia đình nói cháu bị tưa miệng Vậy tôi xin hỏi bệnh tưa miệng là bệnh gì, cách điều trị và phòng bệnh ra sao?

(Phong Lan – Tiền Giang)

Qua phần trình bày của bạn trong thư, triệu chứng của bé phù hợp với triệu chứng của bệnh vi nấm hạt men, mà  trong dân gian thường gọi là tưa miệng. Bệnh tưa miệng do vi nấm hạt men gây nên, thường nhất là nấm Candida Albican, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nam cũng như nữ và phân bố trên khắp thế giới; bệnh thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh, lúc đầu thường xuất hiện ở niêm mạc có tính chất đỏ sẫm, sau đó xuất hiện các mảng trắng như sữa đóng cục lại, các mảng trắng dính chặt vào niêm mạc, cạo mảng trắng thấy niêm mạc đỏ và dễ rịn máu. Sang thương có thể ở khắp niêm mạc miệng nhưng các vị trí chọn lọc là lưng lưỡi, mặt trong má, nướu, vòm miệng; trường hợp nặng có thể ở yết hầu. Bệnh tưa miệng ở trẻ sơ sinh, trẻ lớn hay người lớn đều biểu hiện hình ảnh lâm sàng giống nhau.

Về điều trị tại chỗ thường dùng Daktarin Oral Gel; đối với trẻ sơ sinh dùng ngón tay quấn gạc, rơ thuốc, với liều bằng nửa muỗng lường, rơ 2 lần trong ngày; với trẻ lớn và người lớn dùng nửa muỗng lường 4g/lần trong ngày. Chú ý không nên nuốt thuốc ngay mà giữ càng lâu càng tốt, thời gian điều trị liên tục ít nhất 1 tuần. Ngoài Daktarin Oral Gel, có thể dùng Nystatine uống hoặc thoa, với liều dùng cho người lớn 2 – 4 triệu đơn vị trong 1 ngày, đối với trẻ em lớn uống nửa liều người lớn; không nên dùng liều uống cho trẻ sinh, mà dùng dạng bột rơ miệng 1/2 gói x 2 lần/ngày.

Giải pháp cho người thiếu máu lên não

0
Giải pháp cho người thiếu máu lên não
10:00 18/03/2020 GMT+7
Suckhoedoisong.vn – Bất cứ bộ phận nào trên cơ thể chúng ta đều sẽ bị suy yếu theo thời gian và bộ não cũng không phải là trường hợp ngoai lệ. Tỷ lệ người bị các bệnh về não tại Việt Nam, đặc biệt là thiếu máu não cao nhưng không phải ai cũng biết triệu chứng, sự nguy hiểm và cách chữa trị hiệu quả nhất. Hiện nay tỷ lệ người trẻ tuổi mắc căn bệnh này đang rất cao. Vậy làm gì để não bộ của bạn luôn khỏe mạnh?

Với tình yêu dành cho những cây thuốc thảo dược tự nhiên cùng kinh nghiệm nhiều năm trong điều trị các triệu chứng bằng cây thuốc, Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Sơn đã chỉ ra được nguyên nhân sâu xa gây ra triệu chứng bệnh tiền đình, đau đầu mất ngủ kinh niên…

Thạc Sĩ – Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Sơn, ông đã có hơn 80 công trình nghiên cứu về các bài thuốc Y học Cổ truyền. Từ những nghiên cứu lâu năm về cây thảo dược và sức khoẻ con người, TS-BS Nguyễn Hoàng Sơn mới đây đã đưa ra những nghiên cứu về nguyên nhân sâu xa của bệnh rối loạn tiền đình, thiếu mãu não, đau đầu mất ngủ kinh niên

TS.BS Nguyễn Hoàng Sơn

Theo TS-BS Nguyễn Hoàng Sơn, có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh thiếu máu não, tiền đình hay đâu đầu mất ngủ kinh niên: yếu tố di truyền – gia đình có người từng bị mắc triệu chứng kể trên thì con cái cũng sẽ có nguy cơ mắc phải cao hơn.

Ngoài nguyên nhân khách quan là yếu tố di truyền, còn rất nhiều những nguyên nhân chủ quan được giáo sư nói tới như: Áp lực công việc, thay đổi giờ giấc làm việc, bị tổn thương dây thần kinh số 8….

Với kinh nghiệm nhiều năm tìm hiểu về thảo dược tự nhiên, TS-BS Nguyễn Hoàng Sơn cho biết, đan sâm và rễ vàng chính là bí quyết để có thể hỗ trợ đẩy lùi hiệu quả căn bệnh này

Những dược tính trong 2 loại thảo dược này giúp hỗ trợ bồi bổ khí huyết, giảm stress…

Được phát triển dựa trên những nghiên cứu chuyên sâu về bệnh rối loạn tiền đình, thiếu máu não, Bộ sản phẩm Hoạt Huyết Ngọc Thanh đã ra đời với mong muốn cải thiện được sức khoẻ của người Việt. Bộ sản phẩm bao gồm: Hoạt Huyết Ngọc Thanh và Ngủ Ngon Ngọc Thanh. Sử dụng 2 sản phẩm đúng cách sẽ tạo ra tác động nhiều chiều hỗ trợ giải quyết tận gốc những triệu chứng như đau đầu mất ngủ kéo dài hay chóng mặt, rối loạn tiền đình…

Bộ TPBVSK Hoạt Huyết Ngọc Thanh – giải pháp cho người thiếu máu lên não, đau đầu mất ngủ, tiền đình hiệu quả

Bộ TPBVSK Hoạt Huyết Ngọc Thanh – Giải pháp cho người bị rối loạn tiền đình, thiếu máu não, đâu đầu mất ngủ kinh niên

Bộ sản phẩm bao gồm: Hoạt Huyết Ngọc Thanh và Ngủ Ngon Ngọc Thanh. Được phân phối bởi Công ty TNHH Thương mại Ripple

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có công dụng thay thế thuốc chữa bệnh.